Chi Phí Logistics Là Gì? Thực Trạng Chi Phí Logistics Tại Việt Nam

Chi phí logistics thấp sẽ góp phần quan trọng trong việc tạo thuận lợi cho thương mại, tạo giá trị gia tăng và nâng cao sức cạnh tranh của xuất nhập khẩu hàng hóa. Chỉ số chi phí logistics đánh giá mức độ phát triển thương mại của một quốc gia. Ví dụ, tỷ lệ chi phí logistics trong GDP của một số nước: Úc khoảng 9%, Brazii, Mexico 15-17% (1), Thái Lan 19% (2005) (2), Châu Âu 12% (2006-2008) và Trung Quốc 21,3% (2004). Ước tính của Việt Nam là 20-25% (3).

Chi phí Logistics là gì?

Các chi phí hậu cần là gì? Chi phí hậu cần sẽ bao gồm: chi phí vận chuyển – chiếm từ 1/3 đến 2/3 chi phí lưu thông phân phối; Chi phí cơ hội của vốn – tỷ suất lợi nhuận tối thiểu mà công ty kiếm được khi vốn không được đầu tư vào hàng tồn kho mà dành cho một hoạt động khác; và chi phí bảo quản hàng hóa, bao gồm chi phí thuê kho bãi, bảo quản hàng hóa, hàng hóa ra vào kho, tài sản hư hỏng, bảo hiểm tài sản.

chi phi logistic

Công thức tính chi phí Logistics

Đối với mọi thị trường, giá bán của hàng hóa (G) đến tay người tiêu dùng phải đảm bảo tối thiểu bù đắp các chi phí (C):

G ≥ C1 + C2 + C3 + C4 + C5 (1)
Trong đó:
C1: chi phí sản xuất hàng hoá. Đây là cơ sở để xác định giá bán xuất xưởng
C2: chi phí hoạt động tiếp thị
C3: chi phí vận chuyển
C4: chi phí vốn cơ hội cho hàng tồn kho
C5: chi phí lưu giữ tài sản.
Do đó, chi phí hậu cần sẽ bao gồm: Clog = C3 + C4 + C5

Chi phí vận tải C3

Chiếm tỷ trọng khá lớn: 1/3 đến 2/3 chi phí lưu thông phân phối. Mặc dù ngành GTVT đã nỗ lực giảm giá thành vận tải bằng các giải pháp công nghệ như vận tải hàng hóa bằng container, đóng mới phương tiện, thiết bị công suất lớn, tổ chức đa phương tiện,… nhưng chi phí vận tải ngày càng tăng không ngừng do giá nhiên liệu leo ​​thang. Điều này buộc các nhà sản xuất phải thực hiện nhiều biện pháp giúp giảm chi phí vận chuyển. Một trong những giải pháp là tăng khả năng sử dụng của thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận tải bằng cách thiết kế sản phẩm, đóng gói sản phẩm để tăng tỷ trọng mật độ tải trọng.

Chi phí cơ hội vốn C4

Đó là lợi nhuận tối thiểu mà công ty thu được khi vốn không được đầu tư vào hàng tồn kho mà vào một hoạt động khác. Để đơn giản, chúng ta giả định rằng mức vốn sinh lời tối thiểu là lãi suất phải trả khi vay từ một tổ chức tài chính, do đó C4 được xác định như sau :

C4 = (qikv) t [(1 + r) t-1] (2)
Trong đó:
– qi: số lượng sản phẩm cho một lô hàng
– kv: mức vốn cho một đơn vị sản phẩm. Mức vốn này phụ thuộc vào công nghệ sản xuất
– t = 1 ÷ m: số đơn vị thời gian chịu lãi suất hàng năm đối với hàng tồn kho (tháng hoặc năm)
– r: lãi suất phải trả của các khoản vay.
Qua công thức (2) ta thấy C4 phụ thuộc vào thị trường vốn (r), công nghệ sản xuất (kv) và khối lượng vật tư, sản phẩm tồn kho. Nếu r cố định và kv cố định thì C4 tỉ lệ thuận với qi, tức là qi nhỏ bao nhiêu lần thì C4 nhỏ bấy nhiêu lần và ngược lại.
Trước đây, khi thị trường tiêu thụ còn hạn chế, số lượng sản phẩm sản xuất ra ít, lãi suất vay vốn thấp nên các nhà sản xuất ít quan tâm đến chi phí này. Ngày nay, khi thị trường tiêu thụ mở rộng, số lượng sản phẩm tăng lên, lãi suất tiền vay cao thì chi phí này chiếm một phần đáng kể trong tổng chi phí liên quan đến hàng tồn kho. Điều này buộc các nhà sản xuất phải có những giải pháp tương xứng để giảm chi phí này. Và giải pháp là giảm khối lượng sản xuất và giao hàng (qi) xuống.

Chi phí bảo quản hàng hóa C5

Bao gồm chi phí thuê kho bãi, bảo quản hàng hóa, xuất nhập hàng hóa ra vào kho, hàng hóa hư hỏng, bảo hiểm hàng hóa.

C5 = qi. Tbq.glk + qi.k.g + Cbh (3)
Trong đó:
– Tbq: thời gian lưu trong kho của lô hàng qi
– glk: giá vốn trung bình của một đơn vị hàng hóa trong kho mỗi ngày
– k: tỷ lệ mất mát và hư hỏng của kho lưu trữ
– g: giá trị của các đơn vị lưu trữ
– Cbh: chi phí bảo hiểm cho lô hàng lưu kho
Theo công thức (3) ta thấy chi phí của C5 liên quan đến qi; nếu qi nhỏ, thời gian lưu trữ nhỏ, dẫn đến chi phí này nhỏ và ngược lại.

Thực trạng chi phí logistics của Việt Nam hiện nay

Chưa chú trọng vai trò

Thực trạng cho thấy nhiều công ty Việt Nam chưa tận dụng được hết những lợi ích mà logistics mang lại, thậm chí một số công ty chưa thấy được vai trò hết sức quan trọng của logistics trong việc giảm chi phí sản xuất kinh doanh. Logistics liên quan chặt chẽ đến tiếp thị, sản xuất, tồn kho, vận chuyển và phân phối. Tuy nhiên, nhiều công ty tổ chức chức năng vận chuyển nằm ở phòng hành chính, quản lý hàng tồn kho thuộc phòng kế toán – tài chính, còn chức năng mua hàng thuộc phòng tiếp thị, bán hàng … Việc tổ chức rời rạc các phòng chức năng này khiến các công ty quản lý các chức năng cũng kín đáo. Vì vậy, cần hình thành một bộ phận riêng về logistics / chuỗi cung ứng để các nhà quản lý ở bộ phận này có thể phối hợp chặt chẽ với các bộ phận khác.

Ở Việt Nam, hàng hóa phải qua quá nhiều khâu trung gian, từ khâu cung cấp nguyên liệu cho sản xuất, đến khâu phân phối hàng hóa đến tay người tiêu dùng, làm tăng chi phí giao dịch, tăng giá bán. Trong chuỗi này, các bên tham gia cố gắng thu lợi cho mình, và do thiếu thông tin, các thành viên trong chuỗi chỉ biết rằng có mối quan hệ trực tiếp với doanh nghiệp của họ mà không biết các thành viên khác và kết quả là làm tăng chi phí hậu cần.

Mặt khác, hệ thống phân phối tập trung vào khu vực thành thị là chủ yếu, mà bỏ xa khu vực nông thôn. Các nhà phân phối chỉ phụ trách vận chuyển quãng đường ngắn và các đại lý phải tự giải quyết các vấn đề vận chuyển. Ngoài ra, việc bố trí mạng lưới bán lẻ tương đối dày đặc ở các trung tâm đô thị, trong khi các cửa hàng bách hóa lại quá xa và do hầu hết các công ty không nhận thức được vai trò của từng loại cửa hàng như cửa hàng chính, cửa hàng thứ cấp và trung tâm nên kết quả là hoặc chi phí vận chuyển thấp, nhưng chi phí tồn kho cao, hoặc ngược lại. , điều này cũng làm tăng tổng phí hậu cần.

Một điều đáng quan tâm nữa là các công ty chưa có thói quen sử dụng các dịch vụ thuê ngoài như đại lý làm thủ tục hải quan, đại lý kế toán, dịch vụ thuê ngoài 3PL mà chủ yếu là lao động tự do. Khi các công ty tự kinh doanh dịch vụ, việc đầu tư xây dựng giá kệ kho hàng hoặc mua phương tiện đi lại sẽ cần rất nhiều vốn đầu tư và khó đạt đến trình độ chuyên nghiệp. Mặc dù công suất khai thác thấp, làm tăng độ chậm thu hồi vốn, hiệu quả và chi phí logistics.

Ngành logistics ở nước ta đang phát triển rất mạnh và nhiều công ty cung cấp dịch vụ logistics đang tiến tới mức độ chuyên nghiệp hóa rất cao. Bạn cung cấp dịch vụ càng chuyên nghiệp thì chi phí hậu cần càng thấp. Câu hỏi đặt ra là các công ty có đang tập trung vào vai trò của logistics để giảm chi phí sản xuất hay không?

van chuyen hang hoa

Hạ tầng cơ sở còn yếu kém

Nước ta hiện có hơn 17.000 km đường nhựa, hơn 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thủy, 266 cảng biển và 20 sân bay. Tuy nhiên, chất lượng mạng lưới giao thông chưa đồng bộ, nhiều nơi tiêu chuẩn kỹ thuật chưa đảm bảo ATGT. Mặc dù có 266 cảng biển nhưng chỉ có 20 cảng biển có thể tham gia xuất nhập khẩu hàng hóa quốc tế. Hầu hết các cảng này chưa thể tiếp nhận tàu container thương mại do thiếu trang thiết bị cũng như kinh nghiệm bốc dỡ container …

Về phương tiện vận tải, vận tải hàng không chưa phổ biến mà chủ yếu là vận tải đường bộ. Tuy nhiên, như đã nêu, hệ thống giao thông này không thể vận chuyển hàng hóa nặng do đường hẹp, chất lượng kỹ thuật kém và năng lực vận chuyển quá thấp, thường xuyên xảy ra ùn tắc giao thông. Nhiều khu công nghiệp xây dựng xong nhưng không có đường hoặc các khu công nghiệp bố trí quá xa hệ thống cảng làm tăng chi phí vận chuyển hàng hóa.

Vận tải đường sắt hiện chỉ chuyên chở hành khách. Với hệ thống hai mét đường sắt khác nhau (1 m và 1,43 m), phương tiện này không thể vận chuyển hàng hóa nặng và mất nhiều thời gian (tuyến đường sắt Bắc – Nam mất tới 32 giờ).

Vận tải đường thủy nội địa chủ yếu bằng sà lan, giá thành rẻ, an toàn, ít tai nạn nhưng thời gian vận chuyển lâu và khách hàng chưa mặn mà với hình thức vận tải này.

Ngoài ra, việc kết hợp các phương thức vận tải khác nhau (vận tải đa phương thức) để kết hợp ưu điểm của từng phương thức vận tải cũng chưa phổ biến ở Việt Nam. Vì những lý do này, tổng chi phí logistics (phần lớn là chi phí vận chuyển) là rất cao. Tình trạng này dẫn đến giá bán lẻ trên cả nước rất khác nhau. Xu hướng chung của các công ty Việt Nam (và các nhà xuất khẩu nói riêng) là họ không muốn chấp nhận rủi ro, vì vậy giá bán hàng hóa chỉ dựa trên giá bán xuất xứ của FOB (xuất xứ FOB). bán từ nhà máy, không bao gồm chi phí vận chuyển, trong khi, để giá bán lẻ trên toàn quốc. , cần phải áp dụng điểm đến của fob, tức là giá của hàng hóa cộng với chi phí vận chuyển trung bình từ nơi bán đến kho của khách hàng để chi phí hạ cánh là như nhau.

Vì vậy, để giảm chi phí sản xuất cho doanh nghiệp, giảm giá thành sản phẩm thì cần phải giảm chi phí logistics. Chi phí logistics ở nước ta năm 2011, ước tính hơn 25 tỷ đô la. Vì vậy nếu chỉ giảm 1% chi phí đó sẽ có lợi cho doanh nghiệp, mang lại cho đất nước một khoản tiền không hề nhỏ

logistic

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *